ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

hoiluatsuhanoi.com > Blog > Tin Tức > ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
Đình-chi-giai-quyet-vu-an

Đình chỉ giải quyết vụ án là gì và những trường hợp nào thì Tòa án ban hành văn bản đình chỉ giải quyết vụ án. Hậu quả phát sinh từ việc vụ án bị đình chỉ giải quyết như thế nào là những câu hỏi nhiều người thắc mắc. Dưới đây là các quy định của pháp luật liên quan.

Quy định pháp luật và thực tiễn

Theo quy định của pháp luật và ý nghĩa thực tiễn thì đình chỉ giải quyết vụ án được hiểu là việc một vụ việc sau khi được Tòa án thụ lý; đang trong quá trình giải quyết thì có căn cứ và Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Việc chấm dứt giải quyết vụ án được dựa trên cơ sở các căn cứ đó; hay nói cách khác là vụ án được chấm dứt khi chưa có quyết định giải quyết cuối cùng của Tòa án. Việc đình chỉ vụ án có thể được Tòa án thực hiện ở giai đoạn xét xử sơ thẩm; phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm tùy thuộc vào tiến trình giải quyết và thời điểm phát sinh căn cứ xuất hiện ở giải đoạn nào.

Căn cứ định chỉ giải quyết vụ án

Từ thời điểm quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; các đương sự trong vụ án sẽ không còn bất cứ quyền và nghĩa vụ nào liên quan đến vụ án. Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về Đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự như sau:

“1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình; Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan; tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan;

d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp; hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ; tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

Tạm ứng án phí cũng có thể là cơ sở để chấm dứt giải quyết vụ án

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng; chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án; quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;

h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Việc chấm dứt giải quyết vụ án có thể căn cứ dựa trên yêu cầu của đương sự

2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng; không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi; nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi; nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố; thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập; thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn; người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Xử lý hồ sơ khi đình chỉ giải quyết vụ án

3. Tòa án ra quyết định chấm dứt giải quyết vụ án dân sự. xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện; tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này. Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại; kiến nghị khi có yêu cầu.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chấm dứt giải quyết vụ án dân sự. Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án; thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án; các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Cần cân nhắc hậu quả khi đương sự yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ án

Quy định pháp luật nêu trên đã cho chúng ta thấy rằng việc chấm dứt giải quyết vụ án có thể được Tòa án tiến hành khi có căn cứ. Có trường hợp chỉ cần có yêu cầu từ phía nguyên đơn; nhưng cũng có trường hợp phải có thêm ý kiến của các đương sự khác trong vụ án.

Sau khi vụ án được Tòa án có thẩm quyền ban hành quyết định chấm dứt giải quyết vụ án. Ngoài việc các bên chấm dứt quyền; nghĩa vụ trong vụ án thì cũng sẽ phát sinh những hậu quả nhất định đối với các đương sự. Những hậu quả này được pháp luật tố tụng quy định rõ ràng và cụ thể.

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án

Điều 218 của Bộ luật tố tụng Dân sự quy định về Hậu quả của việc Đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự:

“1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó; nếu việc khởi kiện vụ án sau không; có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn; bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192; điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc; vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

3. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c; và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ; e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

Quyết định đình chỉ vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị

4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”

Chúng ta thấy rằng, việc đình chỉ vụ án không phải đương nhiên diễn ra hoặc theo ý muốn của đương sự hay cơ quan Nhà nước; mà phải có căn cứ theo quy định của pháp luật. Trước khi có yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án; (nếu trường hợp phụ thuộc yêu cầu của các đương sự). thì bên yêu cầu cũng cần phải cân nhắc đến hậu quả phát sinh sau khi vụ án được đình chỉ giải quyết; không nên vội vàng để trách những hậu quả đáng tiếc.

Để hiểu rõ hơn nữa các quy định của pháp luật cũng như các tình huống cụ thể hoặc cần tư vấn thêm về các nội dung của việc đình chỉ vụ án Dân sự. Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại Hotline 0906.238.583 hoặc 0904.680.383.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.