KẾT HÔN ĐÚNG PHÁP LUẬT VÀ TRÁI PHÁP LUẬT

hoiluatsuhanoi.com > Blog > Tin Tức > KẾT HÔN ĐÚNG PHÁP LUẬT VÀ TRÁI PHÁP LUẬT
Đăng ký kết hôn trái luật

Như chúng ta đều biết, khi xây dựng gia đình; mọi người đều phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể đăng ký với ai. Các thủ tục, giấy tờ và điều kiện phải đầy đủ, hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Để giúp mọi người có cái nhìn cơ bản về một số vấn đề liên quan. Luật sư tư vấn Pháp luật hôn nhân và gia đình sẽ khái quát một số quy định về điều kiện, thủ tục; các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc kết hôn; hủy đăng ký trái luật; chung sống như vợ chồng .v.v.

Điều 8- Luật hôn nhân và gia đình

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và; d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Điều 9- Luật hôn nhân và gia đình

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

Căn cứ quy định tại Điều 8 và 9 của Luật hôn nhân gia đình; để đăng ký thì trước tiên, nam phải đủ 20 tuổi và nữ phải đủ 18 tuổi trở lên. Cần lưu ý từ đủ là phải qua ngày sinh nhật thứ 20 với nam giới và 18 với nữ giới. Ngoài ra, các bên không thuộc các trường hợp vi phạm điều cấm của pháp luật hôn nhân và gia đình. Chỉ được coi là vợ chồng khi làm đầy đủ thủ tục và đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Hậu quả việc đăng ký kết hôn trái pháp luật

Vậy, trường hợp không đăng ký hoặc có đăng ký kết hôn nhưng lại vi phạm thì sao. Khi đó, việc nam nữ chung sống như vợ chồng sẽ không được coi là vợ chồng. Các bên không có tài sản và nghĩa vụ chung như vợ chồng; chỉ có nghĩa vụ về con cái (nếu có). Còn đối với trường hợp có đăng ký nhưng trái pháp luật thì sẽ phải hủy đăng ký trái pháp luật theo quy định.

Nhưng việc hủy đăng ký trái pháp luật cũng cần phải tuân theo các quy trình; thủ tục và cần lưu ý có trường hợp liên quan đến cả thẩm quyền. Có khi những người đã đăng ký lại không có quyền yêu cầu hủy việc đăng ký; dù cho việc đăng ký đó là trái pháp luật.

Điều 10- Luật hôn nhân và gia đình

1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn; theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân; tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:

a) Vợ, chồng của người đang có vợ; có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan; tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Điều 11- Luật hôn nhân và gia đình

1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này; quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

3. Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân;, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

4. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Người vi phạm pháp luật hôn nhân có thể không có quyền yêu cầu hủy kết hôn

Như vậy, chúng ta có thể thấy không phải trường hợp nào những người đã đăng ký cũng có thể tự mình yêu cầu việc hủy đăng ký trái pháp luật. Tại sao lại có quy định này; khi ban hành luật, các cơ quan Nhà nước có tính đến yếu tố nhận thức của con người; trường hợp việc đăng ký trước đây là do có bên chưa đủ khả năng nhận thức hoặc các điều kiện khác.v.v.; sau này, quá trình chung sống họ phát sinh mâu thuẫn, dù họ có yêu cầu thì cũng sẽ ảnh hưởng đến những quyền lợi của họ.

Do đó, cơ quan Nhà nước chỉ cho phép một số chủ thể được phép yêu cầu hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật. Những chủ thể này trước khi yêu cầu phải cân nhắc những hậu quả pháp lý pháp sinh; những ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trước khi tiến hành.

Điều 12- Luật hôn nhân và gia đình

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ; con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản; nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Điều 13- Luật hôn nhân và gi đình

Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi; hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này; quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.

Điều 14- Luật hôn nhân và gia đình

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền;, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam; nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này; nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 15- Luật hôn nhân và gia đình

Quyền, nghĩa vụ giữa nam;, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 16- Luật hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ tài sản;, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Từ những phân tích nêu trên, qua các nội dung trích dẫn quy định của Pháp luật về hôn nhân và gia đình. Mọi người có lẽ đã phần nào hiểu được về các điều kiện đăng ký kết hôn; thế nào là đúng pháp luật và trái pháp luật; Nam nữ có được phép chung sống như vợ chồng hay không; Hậu quả của việc hủy đăng ký trái pháp luật và nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký.

Người trong cuộc vất vả để xử lý hôn nhân trái luật

Nhiều trường hợp khi tranh chấp phát sinh; những người trong cuộc vô cùng vất cả để xử lý và giải quyết hậu quả. Bởi việc tranh chấp có khi phải sau một thời gian chung sống nhiều năm mới có; khi các bên giải quyết tranh chấp mới phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật trước đây;

Khi đó, nếu không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp; các bên buộc phải yêu cầu giải quyết cả về hành vi đăng ký trái pháp luật trước đây; đồng thời phải gánh chịu hậu quả phát sinh từ hành vi hủy đăng ký đó. Qua đây, chúng tôi đã khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến việc đăng ký; điều kiện; thủ tục; thế nào là đăng ký trái pháp luật và hậu quả phát sinh. Nếu vướng mắc hoặc có yêu cầu cần tư vấn; làm rõ hơn các vấn đề đã nêu. Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp vào số điện thoại Hotline: 0904.680.383 0906.238.583 để được tư vấn, giải đáp pháp luật; trợ giúp pháp lý.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.